Làm việc tự do, một mình tự lo

Kỷ luật

Sau 6 năm làm biên dịch viên cho một công ty, tôi chủ động rời đi từ cuối tháng 6 năm 2025 để đánh giá lại con đường sự nghiệp, sau đó bắt đầu trải nghiệm cảm giác làm việc tự do (freelancing) toàn thời gian. Không còn sếp, không có giờ làm việc cố định, thậm chí một giai đoạn còn không có việc để làm. Tôi có nhiều tự do hơn về thời gian và không gian làm việc. Tuy nhiên, song hành với đó là một thử thách nhỏ đối với khả năng quản lý bản thân. Vì lượng việc ít đi nên tôi có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, thành ra đôi lúc chỉ nằm xem phim, đọc báo mạng hoặc coi video trên YouTube. Lúc đó, tôi nhận ra điều quan trọng thứ nhất của một cuộc sống làm việc tự do – KỶ LUẬT là thứ mình tự xây dựng và tự duy trì, không phải do một công ty hay đoàn thể nào đưa ra sẵn. Mất kỷ luật là tự đưa mình chìm sâu vào sự tự do vô định. Mà điều này thì không nên chút nào.

Ranh giới

Thế là mất khoảng 3 tuần sau khi nghỉ làm thì tôi mới dần lập nên “trật tự mới” cho mối quan hệ giữa mình và công việc. Đơn giản là đảm bảo bản thân cần thức dậy trước 8 giờ và đi ngủ trước 11 giờ, và vào những ngày không có việc, tôi cố gắng lồng ghép thêm việc đọc gì đó hoặc nghe podcast cho bổ não.

Quy tắc đơn giản này gặp chút trục trặc vì một khách hàng ở Anh có những thay đổi về cách làm việc, cụ thể là chuyển từ mô hình giao bài trực tiếp sang mô hình gửi một loạt bài rồi để ai đến trước lấy trước (“first come, first served”). Thế là tôi phải làm quen với việc thức khuya hơn để giành bài với rất nhiều freelancer khác, vì khách gửi bài theo giờ Anh. Vốn quen với việc mỗi ngày đều có công việc dâng tận miệng trong hơn 6 năm làm nghề, thoạt đầu tôi đã rất khó chịu với thay đổi này. Tôi “đánh hơi” được mô hình này sẽ đánh thẳng vào thu nhập, lòng tham, sự giành giật và cảm giác tức giận khi không lấy được bài. Đây đều là những yếu tố gợi lên tâm ác và tôi thật sự không muốn trải qua sự tiêu cực này mỗi ngày.

Và đây là khi tôi nhận ra điều quan trọng thứ hai của làm việc tự do: Thị trường và các công ty thuê người làm việc tự do sẽ liên tục điều chỉnh để phục vụ lợi ích của họ. Là người làm tự do, linh hoạt chuyển biến theo khách hàng là điều có ích, nhưng nếu được, hãy đặt ra RANH GIỚI cả về mặt tinh thần, cảm xúc, đạo đức và thể chất, đồng thời TỈNH TÁO rời đi khi nhận ra bản thân không còn thấy thoải mái.

Tôi vẫn tiếp tục làm việc cho công ty này nhưng ưu tiên sức khoẻ của bản thân bằng cách chỉ chọn thức khuya một số ngày để lấy bài, còn những ngày khác thì đi ngủ sớm. Phương án này thật ra không tối ưu lắm trên đường dài nên tôi đã bắt đầu tạo đường lui cho mình bằng việc đi học thêm kiến thức và kỹ năng giảng dạy tiếng Anh, đồng thời lận lưng thêm hai tấm chứng chỉ C2 Proficiency (CPE) và IELTS.

Năng lực tiếng Anh…

Tôi đạt IELTS 8.5 trong lần thi đầu tiên, sau khi đậu C2 Proficiency (CPE) vài tháng trước đó với số điểm 203/230. Hai tấm chứng chỉ tiếng Anh, một hành trình ngẫm lại việc học tiếng Anh của bản thân.

Nếu tôi nhớ không lầm thì việc học tiếng Anh của mình bắt đầu từ cuối cấp 1 và khởi đầu từ những quyển Streamline English đen trắng. Kể từ đó cho đến tận khi hết cấp 3, tôi không có cảm giác như thể cực kỳ say mê ngôn ngữ này, chỉ cảm thấy có vẻ mình học môn này khá dễ dàng, mình giỏi làm bài tập và biết cách bắt chước phát âm của người bản ngữ. Nói như vậy không có nghĩa là tôi học siêu giỏi trong lớp, vì các bạn xung quanh tôi cũng toàn là thứ dữ thôi.

Thời đại học của tôi trôi qua bình bình và giờ nhìn lại cũng không có gì đáng nhớ lắm, ngoài một vài người bạn đồng cam cộng khổ qua mấy bài thuyết trình *thả tim*. Khả năng tiếng Anh của tôi trong những năm đại học không cải thiện quá nhiều, nhất là kỹ năng nghe và nói, hai kỹ năng có dính tới âm thanh. Về sau này tôi mới nhận ra mình là kiểu người mỗi lúc chỉ xử lý ổn thoả được một dạng thông tin thôi, ví dụ như nhìn hình ảnh hoặc văn bản rồi bắt đầu ngẫm nghĩ trong đầu, còn vừa cho đọc chữ vừa nghe giọng nói thì sẽ bị rối ngay. Đối với kỹ năng nói, tôi thường rơi vào tình huống vội nói và cạn ý về sau, hoặc quá tập trung vào việc “gồng” câu chữ cho đúng ngữ pháp. Cả hai đợt thi CPE và IELTS vẫn còn cái bệnh này chứ chưa chữa dứt hì hì.

Sau khi ra trường, tôi đi làm suốt 6 năm ở công ty và hai kỹ năng được rèn luyện nhiều nhất chính là đọc và viết tiếng Anh. Dịch thuật là một quá trình khá chậm rãi, đòi hỏi sự chú ý tiểu tiết và ngẫm nghĩ để đảm bảo việc phản ánh trung thực ý nghĩa/thông điệp của văn bản gốc, đồng thời cho ra được bản dịch thuận tai người Việt. Bởi vậy mới cần phải đọc kỹ. Nhờ việc lặp đi lặp lại như vậy ngày qua ngày, tôi hình thành thói quen đọc chậm và không ngán ngẩm chuyện đọc mấy thứ dài dòng và (có vẻ như bị làm cho) phức tạp như chính sách, luật lệ, điều khoản, thoả thuận, v.v.

Còn việc viết tiếng Anh tốt hơn chính xác là bắt nguồn từ nhu cầu cần “giao đấu bằng ngôn từ” với những người đánh lỗi bản dịch của mình, haha. Thường thì đây là một cuộc chiến bất lợi cho phe tôi, nhưng điểm quan trọng là có cơ hội bày tỏ lý lẽ của mình. Chính vì nhu cầu cần giải thích cho bản thân, tôi bắt đầu thử nghiệm nhiều cách viết hơn, lồng ghép bằng chứng, cảm xúc và đôi khi là thái độ của mình vào đó. Quá trình viết này khác với thời tôi đi học, vì lúc này tôi có động lực để viết cho mình, viết để bảo vệ ý kiến của bản thân, chứ không phải viết cho thầy cô đọc nữa, và cũng không phải viết để gây ấn tượng bằng một ý tưởng nào đó cóp nhặt được trên mạng. Đúc kết ở đây là kỹ năng sẽ cải thiện khi bạn có nhu cầu biểu đạt ý kiến qua phương thức đó, nhưng trước hết phải biết ý kiến của mình là gì.

Sau khi nghỉ làm công ty, tôi ôn thi CPE trong khi vẫn duy trì làm việc. Có vẻ vì đây không phải là một bài thi phổ biến và hợp thời, nên các loại tài liệu ôn thi đều mang đến cảm giác hơi cũ, nhất là các bài đọc. Cũng nhờ vậy mà tôi biết đến nhiều từ vựng và kiểu ra đề lạ hơn, ví dụ như dạng bài “gapped text”. Đối với một người làm nghề dịch, không thường xuyên cập nhật về các bài thi tiếng Anh và lâu rồi không biết “luyện thi” là gì, tôi thấy kiểu đề này rất mới mẻ. Đi thi xong tôi còn không biết là đúng cái gì và sai cái gì, vì không nhớ nổi đề. Nhưng đậu thì cũng đậu rồi. Một điều tôi có thể khẳng định là vẫn còn nhiều từ vựng tôi chưa biết lắm, nên vẫn sẽ phải liên tục học từ mới thôi. 

Quá trình ôn thi CPE giúp tôi nhận ra hai điều: tôi đã bớt nản khi đọc phải những thứ mà mình có thể không hiểu hết, và tôi vẫn dở kỹ năng nghe như xưa haha. Bằng chứng chính là cái đoạn trũng giữa kỹ năng nói và nghe của tôi trong bảng điểm CPE đấy! Sau khi thi IELTS, tôi có thêm một đúc kết, đó là bài thi đọc và nghe IELTS mang cảm giác hiện đại và gần gũi hơn, còn độ khó thì phải tuỳ bài. Một điểm quan trọng nữa là nguồn tài liệu luyện thi IELTS dồi dào hơn và rất dễ tìm trên mạng, với giao diện như thi thật. Thế nên lúc thi IELTS tôi thấy thoải mái hơn vì có nhiều sự chuẩn bị, và kết quả là đạt điểm khá cao với hai kỹ năng đọc và nghe.

Đối với hai bài thi viết và nói, tôi cho rằng CPE thú vị hơn IELTS rất nhiều. Ở bài thi viết, cả hai đều có 2 bài cần làm (sau đây gọi là “task” vì đoạn này có hơi nhiều chữ “bài”) và task 1 của CPE khá giống task 2 của IELTS. Còn ở task 2, CPE cho thí sinh đến 3 lựa chọn. Đó có thể là một bài viết ngắn (article), bài đánh giá (review), báo cáo (report) hoặc bức thư (letter). Có lẽ tôi thích CPE hơn vì sự tự do lựa chọn này, và tôi vẫn nhớ mình đã rất vui khi có cơ hội viết về bộ phim In our time (1982) mà tôi rất thích lúc đó. Ở bài thi IELTS, tôi luôn gặp chút khó khăn với việc diễn giải các thể loại biểu đồ và hôm đó tôi làm task 1 không trọn vẹn. Con điểm 7.5 có vẻ là nhờ task 2 gánh còng lưng.

Đến bài thi nói, nếu IELTS là dạng phỏng vấn 1:1 thì CPE là dạng phỏng vấn 2:2 hoặc 2:3, nghĩa là sẽ có hai giám khảo và hai hoặc ba thí sinh thi cùng nhau. Có nhiều trạng thái tâm lý có thể diễn ra khi thi cùng người khác: một là thấy bị lấn át; hai là muốn lấn át người ta; ba là mạnh ai nấy phô diễn thực lực; và bốn là hợp tác để cùng chinh phục bài thi. Sở dĩ cho thi nhiều thí sinh là vì bài thi nói của CPE sẽ có một phần thảo luận giữa các thí sinh để đưa ra một lựa chọn chung, qua đó đánh giá khả năng nói lên ý kiến, thuyết phục, thể hiện sự đồng tình/phản đối của thí sinh. Về mặt chiến lược, tôi thấy việc hợp tác với người cùng thi sẽ mang đến cảm giác tự tin và tích cực hơn, vì thí sinh đều đang cùng hội cùng thuyền. Hôm đó tôi khá may mắn được bắt cặp với một bạn thầy giáo hoà đồng và hợp tác, cộng với giám khảo trông rất từ tốn và dễ chịu, nên quá trình thi nói không quá căng thẳng.

Ngược lại, ở bài thi nói IELTS, tôi gặp một vị giám khảo có nét mặt khá là… phán xét và nhăn nhó hơi nhiều. Tôi biết là giám khảo được đào tạo để đánh giá năng lực ngôn ngữ theo các mốc điểm nhất định, nhưng họ có được đào tạo để tách bạch định kiến cá nhân với quan điểm mà thí sinh trình bày không nhỉ? Vì tôi cảm nhận tông giọng của vị giám khảo này hơi kiểu chán ghét mấy ý tôi nói, nên đến phần 3 là nghe như thể muốn hỏi dồn dập cho tôi thừa nhận ý kiến của mình dở ấy. Nhưng mà không sao, tôi vẫn trả lời từ tốn thôi, còn nghĩ ra được chữ nào thì nói chữ đó, vì biết sắp hoàn thành rồi nên đầu óc tỉnh táo lắm. Ra điểm thấy con 7.0 phần nói là tôi gửi yêu cầu phúc khảo ngay. Vài hôm sau có kết quả phúc khảo thì điểm nói của tôi tăng lên thành 8.0, nâng tổng điểm thành 8.5. Kết lại, thành quả lớn nhất của hành trì ôn luyện này là giúp tôi yêu thích lại chuyện học tiếng Anh và biết rõ năng lực của mình hơn, mà chuyện này thì có ý nghĩa với tôi ở thời điểm hiện tại lắm.

Và khả năng giảng dạy tiếng Anh

Để đảm bảo mình có cách tiếp cận bài bản đối với việc giảng dạy tiếng Anh, tôi chọn đi học một khoá TESOL ngắn hạn diễn ra trong khoảng 1 tháng. Vì thời gian học là rất có hạn, nên những thứ học được nằm ở mức căn bản. Tôi tôn trọng nghề giáo và không hề cho rằng chỉ cần học xong một khoá như thế này là đủ để trở thành một giáo viên chuyên nghiệp như bao thầy cô khác đã lăn lộn trong nghề nhiều năm. Tuy nhiên, nhờ những khoá học nền tảng như vậy mà các bạn sinh viên hoặc người ngoài ngành như tôi mới có thể biết cách khởi đầu và tìm hiểu về nghề.

Khoá học giúp tôi biết đến một số lý thuyết quan trọng của việc thụ đắc, học tập và giảng dạy ngôn ngữ, bên cạnh những phương pháp thực chiến mà tôi cho là sẽ phù hợp để áp dụng với đối tượng người học nhỏ tuổi. Là một người làm văn phòng 6 năm và đã phần nào bị sự trưởng thành “bào mòn”, thú thật là tôi đã mất kha khá thời gian để điều chỉnh hành vi và cảm xúc cho phù hợp với bầu không khí tương đối sôi động của lớp. Đến cuối khoá học, tôi nghĩ là mình đã “mở lòng” hơn một chút, và tôi thấy vui vì chuyện này.

Xuyên suốt khoá học, tôi được định hướng là nên tìm cách lồng ghép các hoạt động hoặc trò chơi thú vị vào lớp học. Tôi không cho rằng định hướng này là sai hay đúng, mà phải tuỳ thuộc vào đối tượng người học và nội dung cần dạy. Ví dụ như phương pháp TPR (Total Physical Response) rất thú vị và có hiệu quả ghi nhớ từ vựng cao, nhưng trải nghiệm của tôi vẫn là khó áp dụng để dạy những người đang cần ôn thi cấp tốc, hoặc để dạy các cụm từ có ý nghĩa khác với từ ngữ bề mặt (chẳng hạn như “burn the candle at both ends” hoặc “speak of the devil”). Nhận định này có thể là do kinh nghiệm hạn hẹp của tôi. Tôi nghĩ một giáo viên giỏi rồi sẽ biết cách lựa chọn phương pháp phù hợp với bài dạy cũng như học trò của mình, và tôi mong mình sẽ trở thành một cô giáo như vậy.

Khoá học này giúp tôi trải qua một bước chuyển quan trọng về tư duy. Đó là từ một người học giỏi tiếng Anh dường như bằng bản năng thành một người biết cách giúp người khác học được như mình, hoặc chí ít là biết thông cảm hơn và nhẫn nại giúp họ học tiếng Anh theo cách ít khó khăn nhất. Để có được bước chuyển này, tôi đã nghĩ về những cảm xúc của mình khi học tiếng Pháp và gặp được một cô giáo rất giỏi nhưng lại khiến tôi thấy mình kém cỏi khi mãi mà không chia đúng động từ. Tôi nhận ra một điều quan trọng là ở lớp học, giáo viên vốn luôn giỏi hơn học trò, nên việc giáo viên chú trọng phô diễn năng lực của mình ở mọi thời điểm thật ra chẳng giúp ích gì cho việc hiểu bài và sự tiến bộ của học trò. Điều quan trọng là biết cách gợi ý và hỗ trợ để học trò muốn làm, muốn nói, muốn viết và muốn bày tỏ bản thân bằng thứ tiếng đó.

Tôi là ai khi không còn công việc?

Từ khi ra làm việc tự do, tôi có nhiều thời gian cho bản thân hơn nhưng cũng thường xuyên nghĩ về mối quan hệ giữa mình và công việc. Nếu không có 6 năm làm việc, không có những khách hàng đó, hay không có những tấm chứng chỉ đó, thì tôi định giới thiệu mình như thế nào?

Thời đại học, vì chưa có gì liên quan đến sự nghiệp, nên tôi thường xuyên giới thiệu bản thân như thế này “Mình tên là Tân, mình thuộc cung Bảo Bình và mình thích mèo”. Kể từ khi bắt đầu đi làm thêm, tôi giới thiệu bản thân bằng công việc và không còn nhắc đến những điều mình thích hay quan tâm nữa. Đến một lúc nào đó, công việc rồi sẽ kết thúc hoặc tệ hơn là mất đi. Việc cho danh tính của mình gắn liền với công việc dường như là một cách thuận tiện để xã hội này biết mình là ai, nhưng không giúp bạn biết mình là ai trong cuộc đời này. Tôi chưa có lời giải đáp cho suy nghĩ này, và có lẽ tôi vẫn sẽ dùng công việc để giới thiệu bản thân với người khác. Điểm khác biệt có lẽ là từ nay, tôi sẽ chia sẻ thêm một điều mình yêu thích.

Xó của Tân

a curious mind in general

Direct your kind feedback to

xocuatan@gmail.com

A Saigonese, a USSH graduate with 6+ years in localisation, and a Jack of all trades, (hopefully) a master of some